Tổng quan về huyện Đông Giang trước sáp nhập
Trước khi thực hiện sáp nhập, huyện Đông Giang là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ 15°55′41″B 107°38′50″Đ. Huyện có tổng diện tích tự nhiên khoảng 821,85 km², dân số khoảng 25.116 người, mật độ dân cư 32 người/km². Địa hình chủ yếu đồi núi xen kẽ thung lũng, nhiều suối nguồn trong lành, là nơi sinh sống truyền thống của cộng đồng dân tộc Cơ Tu với bản sắc văn hóa độc đáo và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nông – lâm nghiệp bền vững.
Ranh giới hành chính:
- Phía Đông giáp huyện Hòa Vang (TP. Đà Nẵng)
- Phía Tây giáp huyện Tây Giang
- Phía Nam giáp huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc
- Phía Bắc giáp huyện Nam Đông (Thừa Thiên Huế) và Hòa Vang (Đà Nẵng)

Đơn vị hành chính
Trước sáp nhập, huyện Đông Giang có 11 đơn vị hành chính:
- Thị trấn: Prao (huyện lỵ)
- 10 xã: A Rooi, A Ting, Ba, Jơ Ngây, Kà Dăng, Mà Cooih, Sông Kôn, Tà Lu, Tư, Zà Hung
Thị trấn Prao giữ vai trò trung tâm hành chính – kinh tế, các xã phân bố dọc theo hệ thống sông suối và đường giao thông chính, dân cư chủ yếu sinh sống bằng nông – lâm nghiệp và nghề truyền thống.

Hạ tầng và các điểm nổi bật
Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Quốc lộ 14G kết nối Đông Giang với trung tâm Đà Nẵng, mở ra hướng phát triển thương mại và du lịch. Đường ĐT609 qua xã A Rooi và xã Mà Cooih được tỉnh nâng cấp, mở rộng giai đoạn 2, cải thiện khả năng vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân vùng sâu. Hệ thống đường liên xã, liên thôn dù đã được bê tông hóa, vẫn còn nhiều đoạn qua đồi núi dốc nên cần duy trì, nâng cấp thường xuyên.
- Hạ tầng kỹ thuật: Điện lưới quốc gia phủ kín 11/11 xã, thị trấn, giúp ổn định sản xuất và sinh hoạt. Cấp nước sinh hoạt tại các điểm trung tâm cơ bản đáp ứng nhu cầu, tuy nhiên một số thôn xa nguồn nước mặt vẫn phụ thuộc giếng khoan. Viễn thông 3G/4G phủ sóng toàn huyện, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, số hóa hành chính

Kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Đông Giang những năm gần đây chuyển dịch theo hướng nông – lâm nghiệp bền vững gắn du lịch – dịch vụ, từng bước hình thành chuỗi giá trị địa phương:
- Nông nghiệp: Năm 2024, toàn huyện gieo trồng 3.657 ha, sản lượng lương thực có hạt 6.314 tấn; trồng mới 112 ha cây ăn quả (mít ruột đỏ, sầu riêng). Tổng đàn gia súc 30.500 con, gia cầm 174 nghìn con. Kế hoạch 2025 phấn đấu lương thực có hạt 6.350 tấn, phát triển mới 60 vườn, trồng 300 ha rừng gỗ lớn, độ che phủ rừng ~66,7%.
- Lâm nghiệp: Giá trị ngành lâm nghiệp năm 2024 đạt ~107,8 tỷ đồng, huyện giao khoán quản lý bảo vệ 45.889,93 ha rừng, trồng mới >470 ha rừng gỗ lớn – phù hợp chủ trương chuyển từ cây ngắn ngày sang gỗ lớn để gia tăng giá trị, bền vững sinh thái.
- Sản phẩm OCOP – kinh tế hộ/HTX: Huyện có 26 sản phẩm OCOP (đến 2024), nổi bật như ớt muối A Riêu (OCOP 4 sao), chè dây rừng Ra Zéh, măng, rượu cần, tinh bột nghệ…, góp phần mở rộng thị trường và tạo “câu chuyện sản phẩm” cho du lịch.
- Dịch vụ – du lịch: Cung đường Hội An – Mỹ Sơn – Cổng Trời Đông Giang được tỉnh chọn làm “đòn bẩy” sản phẩm mới, tổ chức hội thảo xúc tiến lữ hành quốc tế (3/2025) ngay tại Đông Giang nhằm kích cầu, đa dạng hóa chuỗi trải nghiệm.
Làng nghề truyền thống
- Làng nghề dệt thổ cẩm Cơ Tu: Tập trung ở các xã Jơ Ngây, Tà Lu, nơi người dân vẫn duy trì nghề dệt truyền thống với hoa văn đặc trưng.
- Làng nghề mộc dân dụng: Một số hộ dân tại xã Ba và Tư phát triển nghề mộc, sản xuất đồ gỗ phục vụ nhu cầu địa phương.
Các làng nghề được hỗ trợ từ chương trình khuyến công, tuy nhiên vẫn gặp khó khăn về vốn, thị trường và nhân lực trẻ kế thừa
Định hướng phát triển năm 2030, tầm nhìn năm 2050
Mục tiêu đến năm 2030
Mục tiêu đến năm 2030 của huyện Đông Giang dựa trên quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng huyện Đông Giang, Quảng Nam đến năm 2030 (ngày 02/10/2020) và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 (Quyết định 1734/QĐ-UBND ngày 24/06/2025) với các chỉ tiêu chủ yếu.
- Dân số toàn huyện phấn đấu đạt khoảng 30.841 người, trong đó tỷ lệ đô thị hóa tăng lên gần 49,7 % (so với 19,1 % năm 2020) để hình thành mạng lưới dân cư tập trung tại các đô thị Sông Vàng, Sông Voi, Prao và A Sờ.
- Song song, huyện sẽ điều chỉnh, phân bổ hợp lý diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở, đất công nghiệp – dịch vụ, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, thích ứng biến đổi khí hậu và phù hợp với quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến 2050.
- Tổ chức vùng sản xuất hàng hóa (lương thực chất lượng, cây ăn quả, dược liệu dưới tán rừng), nâng sản lượng lương thực quanh 6.3–6.4 nghìn tấn/năm và tăng độ che phủ rừng ~66–67% theo mục tiêu hàng năm đã ban hành.
- Cải thiện dịch vụ công vùng sâu (y tế cơ sở, giáo dục, nước sạch), giảm nghèo bền vững xuống dưới 5%, bảo tồn 80% diện tích rừng nguyên sinh, và ứng phó biến đổi khí hậu qua các dự án chống sạt lở đất và lũ lụt.
Tầm nhìn đến năm 2050
- Hệ sinh thái xanh – thích ứng biến đổi khí hậu: Đông Giang hướng đến trở thành huyện sinh thái rừng của vành đai phía tây Quảng Nam, với kinh tế tuần hoàn lâm nghiệp (gỗ lớn, tre nứa, thảo dược), dịch vụ hệ sinh thái.
- Văn hóa làm nền tảng phát triển: Bảo tồn sống động không gian văn hóa Cơ Tu (nhà Gươl, lễ hội, dệt thổ cẩm) như “tài sản chiến lược” của địa phương; các làng nghề – làng du lịch đạt chuẩn về chất lượng dịch vụ, an toàn, thân thiện môi trường.
- Liên kết vùng sâu hơn: Hoàn thiện “tam giác” Đà Nẵng – Đông Giang – Hội An/Mỹ Sơn bằng sản phẩm du lịch đặc trưng, logistics nông – lâm sản, dịch vụ số (đặt dịch vụ, thương mại điện tử cho OCOP), bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng và bảo tồn.